Chuyển đến nội dung chính

Các dấu hiệu tội phạm của tội đánh bạc qua mạng được thêm từ Google Docs Hangoctuyen

Các dấu hiệu tội phạm của tội đánh bạc qua mạng

Các dấu hiệu tội phạm của tội đánh bạc qua mạng

Cần nắm rõ các dấu hiệu tội phạm của tội đánh bạc qua mạng để tránh sai phạm pháp luật. Biết rõ hành vi được cho là phạm tội đánh bạc qua mạng cũng như mức xử phạt để bảo vệ bản thân trong thời đại công nghệ tiên tiến. Bài viết sau đây sẽ tư vấn cho các bạn biết những vấn đề pháp lý cần thiết về dấu hiệu tội phạm của tội đánh bạc qua mạng.

Dấu hiệu của tội đánh bạc qua mạng

Dấu hiệu của tội đánh bạc qua mạng

Căn cứ pháp luật xác định tội đánh bạc qua mạng

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về người có hành vi được cho là phạm tội đánh bạc như sau:

  • Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng
  • Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Ngoài ra tại điểm c khoản 2 Điều này quy định hành vi phạm tội đánh bạc như trên mà Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội thì sẽ được cho vào khung hình phạt tăng nặng với hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm đánh bạc thông thường

Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, khác với pháp luật của một số nước tư bản quy định cho phép hoạt động đánh bạc, pháp luật nước ta nghiêm cấm mọi hoạt động đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào và coi đây là hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội.

Mặt khách quan của tội phạm: Tội phạm được thể hiện ở hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật. Hành vi đánh bạc được biểu hiện dưới bất cứ hình thức nào được, thua bằng tiền hoặc dùng hiện vật để gán nợ, hiện vật có thể là vàng, bạc, đá quý, xe máy, ô tô.v.v…. Các hình thức đánh bạc có thể là đánh bài, tổ tôm, xóc đĩa, đánh ba cây, cá độ bóng đá.v.v.. Chỉ truy cứu trách nhiệm về tội này khi có một trong những điều kiện sau:

  • Số tiền, hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng
  • Số tiền, hiện vật có giá trị dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, nhằm thu lợi bất chính.

Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định.

Hành vi được cho là phạm tội đánh bạc qua mạng

Theo công văn số 196/TANDTC-PC có giải thích cụ thể hơn về tình tiết “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc, gá bạc.

Tuy nhiên, việc người phạm tội sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (ví dụ: nhắn tin qua điện thoại, qua email, zalo, viber…. để ghi số đề, lô tô, cá độ đua ngựa…) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khi xem xét, áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì chỉ cần chứng minh các bị cáo sử dụng trang mạng đánh bạc trực tuyến không được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam để đánh bạc là đã đủ điều kiện để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này. Việc chứng minh các bị cáo nhận, trả tiền thắng, thua bạc bằng phương thức nào chỉ nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác của vụ án.

Hành vi được cho là tội đánh bạc qua mạng

Hành vi được cho là phạm tội đánh bạc qua mạng

Mức xử phạt cho tội đánh bạc qua mạng

Theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hành vi đánh bạc qua mạng là hành vi phạm tội có tình tiết tăng nặng nên phạm tội thuộc trường hợp này sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

Ngoài ra theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội đánh bạc còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

>>>Xem thêm: Hành vi đánh bài online

Xử phạt cho tội đánh bạc qua mạng

Xử phạt cho tội đánh bạc qua mạng

Các tình tiết giảm nhẹ có thể áp dụng

Tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định tổng hợp các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tùy từng tội danh và trường hợp cụ thể mà có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác nhau. Các tình tiết giảm nhẹ có thể được xem xét đối với tội đánh bạc qua mạng như sau:

  • Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
  • Phạm tội do lạc hậu;
  • Người phạm tội là phụ nữ có thai;
  • Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
  • Người phạm tội tự thú;
  • Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
  • Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
  • Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

>>>Xem thêm: Những tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự

Trên đây là bài viết tư vấn các quy định về các dấu hiệu tội phạm của tội đánh bạc qua mạng cũng như mức xử phạt đối với tội danh này. Nếu quý khách còn có thắc mắc liên quan đến vấn đề này hoặc cần hỗ trợ TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ, hãy liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE 1900.63.63.87 để được hỗ trợ và tư vấn.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



/Hangoctuyen/Tai Nguyen/Luat Hinh Su
Xem thêm Google Doc Hangoctuyen

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015

 TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO ĐIỀU 168 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 Tội cướp tài sản, được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là một hành vi phạm tội nghiêm trọng. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của họ. Tội cướp Tài sản theo Điều 168 là gì? Theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, tội cướp tài sản được hiểu là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác khiến nạn nhân không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. Tùy vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi, người phạm tội có thể phải đối mặt với hình phạt tù từ 3 năm đến 20 năm, thậm chí là tù chung thân. Đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến cả quyền sở hữu tài sản và quyền được an toàn về tính mạng, sức khỏe của con người. Cấu thành tội cướp tài sản gồm 4 yếu tố: Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng...

Hủy hoại tài sản của người khác bị xử phạt như thế nào?

 HỦY HOẠI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI KHÁC BỊ XỬ PHẠT NHƯ THẾ NÀO? Hủy hoại tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Nói một cách dễ hiểu, khi bạn cố ý phá hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác, bạn đã xâm phạm đến quyền sở hữu của họ. Ví dụ, bạn đập phá xe máy của hàng xóm, vẽ bậy lên tường nhà người khác, hoặc thậm chí là chặt phá cây cối trong công viên... đều là những hành vi hủy hoại tài sản. Mức độ xử phạt sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản bị thiệt hại và tính chất của hành vi. Nếu giá trị tài sản nhỏ và hành vi chưa đến mức nghiêm trọng, bạn có thể bị xử phạt hành chính. Ngược lại, nếu giá trị tài sản lớn hoặc hành vi có tính chất côn đồ, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại tài sản Theo Điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng áp dụng với hà...

Xóa án tích: Quy định pháp luật và thủ tục thực hiện

 Xóa án tích: Quy định pháp luật và thủ tục thực hiện Xóa án tích là cơ hội để những người từng lầm lỗi có thể làm lại cuộc đời, hòa nhập cộng đồng và khôi phục các quyền công dân. Tuy nhiên, không phải ai cũng được xóa án tích. Để được xóa án tích, người đó phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, chẳng hạn như đã chấp hành xong hình phạt, có thời gian thử thách tốt, không tái phạm... Khi được xóa án tích, người đó sẽ được coi như chưa từng bị kết án. Điều này có nghĩa là họ có thể tự do xin việc, tham gia các hoạt động xã hội, ứng cử vào các chức vụ... mà không bị phân biệt đối xử. Nói cách khác, xóa án tích như một "tấm vé trở về" với cuộc sống bình thường, giúp họ có cơ hội đóng góp cho xã hội và xây dựng tương lai tốt đẹp hơn. Án tích, Xóa án tích là gì? Nói một cách đơn giản, án tích giống như một "vết sẹo" trong hồ sơ pháp lý của bạn, thể hiện rằng bạn đã từng bị kết án về một tội danh nào đó. Nó có thể gây khó khăn cho bạn tro...