Chuyển đến nội dung chính

Tòa án có quyền xét xử bị cáo tội danh khác tội danh Viện kiểm sát đã truy tố không được thêm từ Google Docs Hangoctuyen

Tòa án có quyền xét xử bị cáo tội danh khác tội danh Viện kiểm sát đã truy tố không

Tòa án có quyền xét xử bị cáo tội danh khác tội danh Viện kiểm sát đã truy tố không?

Giới hạn xét xử của Tòa án trong vụ án hình sự là khuôn khổ, phạm vi giới hạn mà Tòa án không thể vượt quá trong quá trình xét xử vụ án. Vậy Tòa án có quyền xét xử bị cáo tội danh khác TỘI DANH Viện kiểm sát đã truy tố không? Trong những trường hợp nào Tòa án có thể xét xử tội phạm một tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố? Cùng tìm hiểu nhé.

Giới hạn xét xử của Tòa hình sự là gì?Giới hạn xét xử của Tòa hình sự là gì?

Giới hạn xét xử của Tòa án trong vụ án hình sự

Có thể hiểu, quy định giới hạn xét xử trong vụ án hình sự được đặt ra nhằm mục đích đảm bảo tính định hướng cho hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng.

Các chủ thể tham gia tố tụng giải giai đoạn xét xử, đặc biệt là xác định giới hạn cho Tòa án trong việc thực hiện quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết vụ án, tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền, trái quyền gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể tham gia tố tụng.

Bên cạnh đó, quy định về giới hạn xét xử còn đảm bảo cho bị cáo và người bào chữa có thể có thể chủ động trong việc chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh tụng với quan điểm buộc tội từ Viện kiểm sát.

Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định về Giới hạn của việc xét xử như sau:

Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.

Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều liệu hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tòa án có thể xét xử bị cáo một tội danh nặng hơn hoặc nhẹ hơn so với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố hay không? Trường hợp xét xử nặng hơn

Căn cứ theo quy định về giới hạn xét xử của Tòa án được quy định tại Điều 196 BLTTHS 2003 thì Tòa án không được xét xử những người và những hành vi không bị Viện kiểm sát truy tố. Đồng thời, Tòa án không được xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Tòa án không thể xét xử bị cáo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại điều 298 BLTTHS 2015 có quy định mở rộng giới hạn xét xử cho Tòa án nhằm khắc phục những bất cập của BLTTHS 2003 như sau:

  1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
  3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.

Với quy định mới này, giới hạn xét xử của Tòa án đã được mở rộng hơn. Cụ thể, trong trường hợp nếu thấy cần thiết thì Tòa án có quyền:

  • Được xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
  • Không được xét xử những người và những hành vi không bị Viện kiểm sát truy tố.

Tòa án xét xử vụ án hình sự có thể xử bị cáo tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tốTòa án xét xử vụ án hình sự có thể xử bị cáo tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tố

>> Xem thêm: Cách xác định mức án tù trong vụ án hình sự

Trường hợp xét xử nhẹ hơn

Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã quy định rất rõ giới hạn xét xử của Tòa án. Tại khoản 2 Điều 298 có quy định như sau:

Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Giới hạn xét xử của Tòa án đối với bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố nhiều tội danh

Theo quy định tại Điều 298 BLTTHS 2015, ta có thể hiểu về giới hạn xét xử của Tòa án như sau:

Thứ nhất, Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng với quy định “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”.

Thứ hai, Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Thứ ba, trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.

Từ đó, có thể hiểu rằng Tòa án hoàn toàn có quyền xét xử những bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố nhiều tội danh mà không vượt quá giới hạn xét xử theo quy định của pháp luật.

Giới hạn xét xử của Tòa án đối với bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố nhiều tội danhGiới hạn xét xử của Tòa án đối với bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố nhiều tội danh

>> Xem thêm: Trình tự thủ tục điều tra xét xử một vụ án hình sự như thế nào?

Bài viết trên đây là những quy định cụ thể của BLTTHS 2015 về việc giải đáp thắc mắc “Tòa án có quyền xét xử bị cáo tội danh khác tội danh Viện kiểm sát đã truy tố không?”. Hy vọng bài viết đã giúp bạn có thêm nhiều kiến thức pháp luật hữu ích. Nếu có thắc mắc muốn giải đáp gấp hoặc nhờ luật sư hình sự trực tiếp TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ, quý khách có thể liên hệ hotline 1900.63.63.87 của Công ty Luật Long Phan PMT. Cảm ơn quý khách!



/Hangoctuyen/Tai Nguyen/Luat Hinh Su
Xem thêm Google Doc Hangoctuyen

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015

 TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO ĐIỀU 168 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 Tội cướp tài sản, được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là một hành vi phạm tội nghiêm trọng. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của họ. Tội cướp Tài sản theo Điều 168 là gì? Theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, tội cướp tài sản được hiểu là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác khiến nạn nhân không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. Tùy vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi, người phạm tội có thể phải đối mặt với hình phạt tù từ 3 năm đến 20 năm, thậm chí là tù chung thân. Đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến cả quyền sở hữu tài sản và quyền được an toàn về tính mạng, sức khỏe của con người. Cấu thành tội cướp tài sản gồm 4 yếu tố: Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng...

Hủy hoại tài sản của người khác bị xử phạt như thế nào?

 HỦY HOẠI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI KHÁC BỊ XỬ PHẠT NHƯ THẾ NÀO? Hủy hoại tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Nói một cách dễ hiểu, khi bạn cố ý phá hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác, bạn đã xâm phạm đến quyền sở hữu của họ. Ví dụ, bạn đập phá xe máy của hàng xóm, vẽ bậy lên tường nhà người khác, hoặc thậm chí là chặt phá cây cối trong công viên... đều là những hành vi hủy hoại tài sản. Mức độ xử phạt sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản bị thiệt hại và tính chất của hành vi. Nếu giá trị tài sản nhỏ và hành vi chưa đến mức nghiêm trọng, bạn có thể bị xử phạt hành chính. Ngược lại, nếu giá trị tài sản lớn hoặc hành vi có tính chất côn đồ, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại tài sản Theo Điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng áp dụng với hà...

Quay lén trong nhà nghỉ bị xử phạt như thế nào?

 Quay lén trong nhà nghỉ bị xử phạt như thế nào? Nhà nghỉ là nơi mọi người tìm đến để nghỉ ngơi và thư giãn. Việc quay lén trong nhà nghỉ là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư của người khác, vi phạm pháp luật Việt Nam và bị xử lý nghiêm khắc. Hành vi này không chỉ đơn thuần là vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy vào mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi quay lén có thể phải đối mặt với án phạt tù lên đến nhiều năm. Đây là một lời cảnh tỉnh cho những ai có ý định quay lén người khác. Hãy tôn trọng quyền riêng tư của mọi người và đừng để bản thân vướng vào vòng lao lý chỉ vì những hành động thiếu suy nghĩ. Quy định pháp luật liên quan đến hành vi quay lén Hành vi quay lén trong nhà nghỉ là việc sử dụng thiết bị ghi hình để thu thập hình ảnh, video của người khác mà không được sự đồng ý. Đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư cá nhân được pháp luật bảo vệ. Việc lắp đặt camera trong phòng nghỉ không chỉ vi phạm đạo đ...