Chuyển đến nội dung chính

Bị hại có đơn bãi nại thì có được miễn trách nhiệm hình sự được thêm từ Google Docs Hangoctuyen

Bị hại có đơn bãi nại thì có được miễn trách nhiệm hình sự

Bị hại có đơn bãi nại thì có được miễn trách nhiệm hình sự?

Bị hại có đơn bãi nại thì có được miễn trách nhiệm hình sự không? Trên thực tế, đây là câu hỏi được rất nhiều bạn đọc quan tâm. Bãi nại nghĩa là bãi bỏ yêu cầu khiếu nại, khởi tố tức “người bị hại hoặc nạn nhân” trong vụ án mà họ có đơn bãi nại nghĩa là họ không yêu cầu khởi tố hoặc rút đơn khởi tố. Vậy những trường hợp nào có đơn BÃI NẠI được miễn trách nhiệm hình sự, chúng tôi sẽ giúp các bạn tìm hiểu thêm qua biết viết sau.

Bãi nại có được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự

Bãi nại có được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự

Bãi nại là gì?

Đơn bãi nại không phải là một thuật ngữ pháp lý, đây đơn giản là khái niệm để chỉ đến loại đơn của người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người bị hại có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc người bị hại đã chết với nội dung: rút lại yêu cầu khởi kiện vụ án hình sự, nghĩa là không còn tiếp tục khởi kiện nữa. Vậy nên, có thể hiểu làm đơn bãi nại là quyền của người bị hại hay người đại diện của họ.

Những trường hợp được áp dụng đơn bãi nại

Đơn bãi nại không được quy định trực tiếp trong nội dung của các Bộ luật tố tụng hình sự một cách rõ ràng mà được ngầm hiểu là hành vi người yêu cầu khởi tố vụ án hình sự làm đơn rút yêu cầu khởi tố. Theo đó, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về vấn đề này tại Điều 155 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại như sau:

  • Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
  • Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
  • Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Từ quy định trên chúng ta hiểu rằng, đơn bãi nại chỉ có thể đình chỉ những vụ án có thể được khởi tố dựa trên yêu cầu của người bị hại.

Áp dụng đơn bãi nại

Áp dụng đơn bãi nại

Trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại Những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự khi có đơn bãi nại

Điều 155 BLTTHS 2015 quy định chỉ những vụ án hình sự về các tội dưới đây thì mới có thể đình chỉ khi người có yêu cầu khởi tố rút yêu cầu của họ:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS)
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135 BLHS)
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136 BLHS)
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138 BLHS)
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139 BLHS)
  • Tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS)
  • Tội cưỡng dâm (Điều 143 BLHS)
  • Tội làm nhục người khác (Điều 155 BLHS)
  • Tội vu khống (Điều 156 BLHS)
  • Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS).

Cụ thể, danh sách những tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện của họ theo quy định tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 và việc rút yêu cầu khởi tố phải là hoàn toàn tự nguyện, không có dấu hiệu của ép buộc hay cưỡng bức dẫn đến việc đình chỉ vụ án ở các giai đoạn của quá trình tố tụng một vụ án hình sự, tức bên gây thiệt hại sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.

Khi có đơn bãi nại nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Người phạm tội không thuộc các tội danh nêu tại Khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 thì đơn bãi nại của người bị hại không có giá trị để đối tượng có hành vi phạm tội tránh được việc bị xử lý hình sự mà trong trường hợp này đơn bãi nại chỉ có thể được xem như một tình tiết giảm nhẹ cho đối tượng phạm tội.

Trường hợp áp dụng đơn bãi nại

Trường hợp áp dụng đơn bãi nại

Như vậy, không phải mọi trường hợp có đơn bãi nại đều được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự mà còn cần phải dựa vào căn cứ quy định tại Điều 155 BLTTHS 2015 trường hợp bị hại rút đơn khởi tố thuộc các tội danh quy định tại Khoản 1 Điều này để xem xét.

>> > Xem thêm: MẪU ĐƠN BÃI NẠI HÌNH SỰ

Trên đây là bài viết liên quan đến việc có đơn bãi nại thì có được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu như Quý khách hàng còn băn khoăn hay mong muốn được TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ tư vấn để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này hoặc cần tìm DỊCH VỤ LUẬT SƯ HÌNH SỰ để xử lý các vấn đề liên liên quan vui lòng liên hệ với chúng tôi qua hotline 1900636387 để được tư vấn chi tiết. Xin cảm ơn!



/Hangoctuyen/Tai Nguyen/Luat Hinh Su
Xem thêm Google Doc Hangoctuyen

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015

 TỘI CƯỚP TÀI SẢN THEO ĐIỀU 168 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 Tội cướp tài sản, được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là một hành vi phạm tội nghiêm trọng. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của họ. Tội cướp Tài sản theo Điều 168 là gì? Theo Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, tội cướp tài sản được hiểu là hành vi sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác khiến nạn nhân không thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. Tùy vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi, người phạm tội có thể phải đối mặt với hình phạt tù từ 3 năm đến 20 năm, thậm chí là tù chung thân. Đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến cả quyền sở hữu tài sản và quyền được an toàn về tính mạng, sức khỏe của con người. Cấu thành tội cướp tài sản gồm 4 yếu tố: Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng...

Hủy hoại tài sản của người khác bị xử phạt như thế nào?

 HỦY HOẠI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI KHÁC BỊ XỬ PHẠT NHƯ THẾ NÀO? Hủy hoại tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý nghiêm minh theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Nói một cách dễ hiểu, khi bạn cố ý phá hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác, bạn đã xâm phạm đến quyền sở hữu của họ. Ví dụ, bạn đập phá xe máy của hàng xóm, vẽ bậy lên tường nhà người khác, hoặc thậm chí là chặt phá cây cối trong công viên... đều là những hành vi hủy hoại tài sản. Mức độ xử phạt sẽ phụ thuộc vào giá trị tài sản bị thiệt hại và tính chất của hành vi. Nếu giá trị tài sản nhỏ và hành vi chưa đến mức nghiêm trọng, bạn có thể bị xử phạt hành chính. Ngược lại, nếu giá trị tài sản lớn hoặc hành vi có tính chất côn đồ, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi hủy hoại tài sản Theo Điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng áp dụng với hà...

Quay lén trong nhà nghỉ bị xử phạt như thế nào?

 Quay lén trong nhà nghỉ bị xử phạt như thế nào? Nhà nghỉ là nơi mọi người tìm đến để nghỉ ngơi và thư giãn. Việc quay lén trong nhà nghỉ là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư của người khác, vi phạm pháp luật Việt Nam và bị xử lý nghiêm khắc. Hành vi này không chỉ đơn thuần là vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy vào mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi quay lén có thể phải đối mặt với án phạt tù lên đến nhiều năm. Đây là một lời cảnh tỉnh cho những ai có ý định quay lén người khác. Hãy tôn trọng quyền riêng tư của mọi người và đừng để bản thân vướng vào vòng lao lý chỉ vì những hành động thiếu suy nghĩ. Quy định pháp luật liên quan đến hành vi quay lén Hành vi quay lén trong nhà nghỉ là việc sử dụng thiết bị ghi hình để thu thập hình ảnh, video của người khác mà không được sự đồng ý. Đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư cá nhân được pháp luật bảo vệ. Việc lắp đặt camera trong phòng nghỉ không chỉ vi phạm đạo đ...